Chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh – Một ngôi chùa cổ xưa của Việt Nam

Dù nghe về chùa Dâu nhiều lần, nhưng gần đây tôi mới có dịp tìm hiểu kỹ hơn khi tìm hiểu về các danh thắng, di tích ở Bắc Ninh. Tham khảo các bài viết trên Internet thì tôi được biết chùa Dâu được là ngôi chùa rất cổ xưa nơi đạo Phật có những bước du nhập đầu tiên vào vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta cách đây khoảng mưới mấy thế kỉ.

Bản đồ đường đi từ cầu Thanh Trì

Bản đồ đường đi từ cầu Thanh Trì

Từ Hà Nội đi tới chùa Dâu khá dễ dàng. Đi qua cầu Thanh Trì khoảng 5 km rồi rẽ trái. Đi tiếp khoảng 3km rẽ trái ở gần khu công nghiệp Phú thị ra QL17. Đi khoảng 10km là tới chùa Dâu năm ngay mặt đường ở bên tay phải.

Sơ đồ quần thể di tích chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh

Sơ đồ quần thể di tích chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh

Khác với những gì tôi tưởng tượng về một ngôi chùa cổ kính, thì khi tới nơi quang cảnh quanh chùa hơi lộn xộn.

Khác với những gì tôi tưởng tượng về một ngôi chùa cổ kính, thì khi tới nơi quang cảnh quanh chùa hơi lộn xộn.

Ngay lối vào chùa cũng có nhiều hàng quán bày bán

Ngay lối vào chùa cũng có nhiều hàng quán bày bán.

Trước khoảng sân chùa là những sạp hàng đồ chơi. Nếu không biết trước mà chỉ đi ngang qua có lẽ cũng khó nhận ra đây là một ngôi chùa nổi tiếng. Nhưng những người bán hàng ở đây cũng hiền lành, dè dặt chứ không ồn ào náo nhiệt.

Trước khoảng sân chùa là những sạp hàng đồ chơi. Nếu không biết trước mà chỉ đi ngang qua có lẽ cũng khó nhận ra đây là một ngôi chùa nổi tiếng. Nhưng những người bán hàng ở đây cũng hiền lành, dè dặt chứ không ồn ào náo nhiệt.

Tháp Hòa Phong của chùa Dâu nhìn từ xa

Tháp Hòa Phong của chùa Dâu nhìn từ xa

Chùa Dâu là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, từ Ấn Độ sang và từ phương Bắc xuống, chủ yếu bằng đường thủy theo dòng sông Dâu. Vào buổi đầu Công Nguyên, các tăng sỹ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu-đà-la đã tới đây truyền bá đạo Phật đầu tiên. Cuối thế kỷ VI, nhà sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này và lập nên một phái thiền ở Việt Nam. Chùa Dâu trở thành trung tâm của phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, nơi trụ trì của nhiều cao tăng Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc đến để nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch kinh Phật, đào tạo tăng ni.

Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, những tài liệu, cổ vật còn lại ở chùa Dâu, đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp vân Phật bản hạnh”, có niên đại 1752 cùng kết quả nghiên cứu về lịch sử Phật Việt Nam của các nhà sử học và Phật học đã khẳng định “Chùa Dâu là tổ đình của Phật giáo Việt Nam”, được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 28/4/1962.

Năm 1913, chùa được xây dựng lại và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Đời nhà Trần, vua Trần Nhân Tông đã sai Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp”. Trải qua bao thăng trầm và chiến tranh tàn phá nhưng chùa Dâu với tháp gạch cao sừng sững, với tòa ngang, dãy dọc nguy nga, cổ kính vẫn còn đó.

Chùa Dâu gắn với huyền tích Phật mẫu Man Nương và tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), là biểu hiện sinh động sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tín ngưỡng dân gian của người Việt với Phật giáo khi mới du nhập. Tương truyền, nàng Man Nương, cô gái Kẻ Mèn (nay thuộc xã Hà mãn, Thuận Thành) dốc tâm học đạo Phật, một hôm nằm ngủ quên, sư Khâu –đà –la vô tình bước qua mà bỗng nhiên mang thai. Kết quả đến giờ Ngọ ngày 08 tháng 4 (âm lịch) thì sinh một nữ nhi. Nàng liền đem con đến trả cho sư Khâu-đà-la. Nhà sư mang đứa bé đén gốc cây dung thụ gõ cây đọc kệ. Cây dung thụ bỗng nứt toác ra ôm đúa bé vào lòng. Rồi Khâu-đà-la cho Man Nương cây tích trượng và dặn khi nào có đại hạn cứ cắm xuống đất và phát nguyện thì sẽ có nước để cứu dân. Thế rồi vào năm Giáp Tý, mưa bão đánh đổ cây dung thụ trôi theo dòng sông Dâu về đến thành Luy Lâu thì quẩn không trôi được nữa. Bao nhiêu chàng trai trong vùng được huy động đến kéo cây vào bờ nhưng cây không hề nhúc nhích. Vừa lúc đó, Man Nương vô tình ra sông rửa tay, bỗng dưng cây dập dình như con tìm thấy mẹ. Man Nương ném dải yếm ra thì cây dung thụ trôi ngay vào bờ. Cũng khi ấy Sỹ Nhiếp trong thành Luy Lâu được mộng phải tạc cây dung thụ thành tượng Tứ Pháp để thờ. Sỹ Nhiếp cho ngay thợ xẻ cây dung thụ tạc tượng Tứ Pháp. Khi tượng đã làm xong, làm lễ đặt tên cho pho thứ nhất thì bỗng thấy trời nổi mây ngũ sắc liền đặt tên là Pháp Vân, thờ ở chùa Dâu, dân gian gọi là bà Dâu. Khi đặt tên cho Pho thứ hai thì bỗng thấy trời nổi gió lớn liền đặt tên là Pháp Vũ, thờ ở Chùa Thành Đạo (tức chùa Đậu) dân gian gọi là bà Đậu. Đến khi đặt tên cho pho thứ ba thì bỗng thấy trời nổi sấm ầm ầm thì liền đăt tên là Pháp Lôi thờ ở chùa Phi Tướng (tức chùa Tướng) dân gian gọi là bà Tướng. Đến khi đặt cho pho thứ tư thì bỗng thấy trời nổi chớp, liền đặt tên là Pháp Điện thờ ở chùa Phương Quan (tức chùa Dàn) dân gian gọi là bà Dàn. Nhưng khi làm lễ rước Phật Tứ Pháp về các chùa, chỉ được ba pho, còn pho tượng Pháp Vân không hề chuyển động. Hỏi ra mới biết khi tạc tượng rìu đẽo phải hòn đá trong cây dung thụ đã quẳng xuống sông. Tức thì dân các làng chài quanh đấy được phái đi mò nhưng không hề thấy. khi Man Nương đi dò đến nơi thì bỗng nhiên hòn đá dưới nước nhảy lên vào lòng và phát sáng. Hòn đá đó đặt tên là Phật Thạch Quang được thờ ở chùa Dâu.

Câu chuyện nàng Man Nương được giải thích là sự mầu nhiệm của “nhân thiên hợp khí”. Thực chất đó là cuộc hôn phối giữa đạo phật với tín ngưỡng bản địa, tiền thân của Tứ pháp (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) thờ ở vùng Dâu, Luy Lâu rồi lan tỏa ra nhiều vùng khác. Ngày mồng 8 tháng 4 không chỉ là ngày sinh Phật Thích Ca (Ấn Độ) mà là ngày sinh của Phật Tứ Pháp (Việt Nam).
Nguồn: http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/245/0/1788/Chua_Dau_Bac_Ninh_ngoi_chua_co_nhat_Viet_Nam

Men theo lối vào một đoạn thì gian nhà đâu tiên tôi gặp là nhà thờ Tổ Tăng và thờ Mẫu

Men theo lối vào một đoạn thì gian nhà đâu tiên tôi gặp là nhà thờ Tổ Tăng và thờ Mẫu

Bên trong là bàn thờ Tổ Tăng và Tổ Ni và Thánh Mẫu trang nghiêm sạch sẽ.

Bên trong là bàn thờ Tổ Tăng và Tổ Ni và Thánh Mẫu trang nghiêm sạch sẽ.

Bàn thờ Thánh Mẫu bên phải bàn thờ chính thờ Tổ Tăng trong nhà thờ Tổ Tăng và thờ Mẫu

Bàn thờ Thánh Mẫu bên phải bàn thờ chính thờ Tổ Tăng trong nhà thờ Tổ Tăng và thờ Mẫu

Sang gian nhà chính, thì tôi thấy được đặt chính giữa gian nhà là pho tượng bà Dâu, nữ thần Pháp Vân uy nghi cao 2m.

Sang gian nhà chính, thì tôi thấy được đặt chính giữa gian nhà là pho tượng bà Dâu, nữ thần Pháp Vân uy nghi cao 2m.

Phía trên đằng sau pho tượng lớn bà Dâu là một gian để bàn thờ thần Pháp Vân

Phía trên đằng sau pho tượng lớn bà Dâu là một gian để bàn thờ thần Pháp Vân

Phía bên trái tượng bà Dâu là tượng bà Đậu, nữ thần Pháp Vũ cai quản việc làm mưa

Phía bên trái tượng bà Dâu là tượng bà Đậu, nữ thần Pháp Vũ cai quản việc làm mưa

Phía bên phải tượng bà Dâu là bàn thờ Tam Bảo Thượng (ở phía sau còn có bàn thờ Mạc Đĩnh Chi)

Phía bên phải tượng bà Dâu là bàn thờ Tam Bảo Thượng (ở phía sau còn có bàn thờ Mạc Đĩnh Chi)

Bao quanh gian nhà chính là 3 gian nhà phụ. Gian nhà phụ chính giữa có bàn thờ Tam Bảo Hậu

Bao quanh gian nhà chính là 3 gian nhà phụ. Gian nhà phụ chính giữa có bàn thờ Tam Bảo Hậu

Gian nhà phụ và bàn thờ Tam Bảo Hậu

Gian nhà phụ và bàn thờ Tam Bảo Hậu

Bàn thờ các vị La Hán chùa Dâu ở gian nhà phụ bên phải

Bàn thờ các vị La Hán chùa Dâu ở gian nhà phụ bên phải

Bàn thờ các vị La Hán chùa Dâu ở gian nhà phụ bên trái

Bàn thờ các vị La Hán chùa Dâu ở gian nhà phụ bên trái

Một bác nghệ nhân thư pháp say sưa cùng các nét chữ trong gian nhà gần tháp Hòa Phong

Một bác nghệ nhân thư pháp say sưa cùng các nét chữ trong gian nhà gần tháp Hòa Phong

Lương Tuấn Vũ / 05.2017

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *